Truy cập nội dung luôn

Chi tiết tin

GIỚI THIỆU NHỮNG NỘI DUNG LỚN CỦA BỘ LUẬT LAO ĐỘNG SỐ 45/2019/QH14
10/12/2020

Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 01 năm 2021, thay thế Bộ luật Lao động số 10/2012/QH13. Bộ luật Lao động 45/2019/QH14 (BLLĐ) có những nội dung lớn sau:

I. Về tuổi nghỉ hưu:

- Tuổi nghỉ hưu chung trong điều kiện lao động bình thường, nam nghỉ hưu ở tuổi 62 (vào năm 2028) và nữ ở tuổi 60 (vào năm 2035) theo lộ trình mỗi năm tăng 3 tháng đối với nam và mỗi năm tăng 4 tháng đối với nữ kể từ năm 2021.

- Quyền nghỉ hưu sớm hơn không quá 5 tuổi được áp dụng đối với:

+ Người lao động (NLĐ) bị suy giảm khả năng lao động;

+ Làm nghề, công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm; làm nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm;

+ Làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

- Quyền nghỉ hưu muộn hơn không quá 5 tuổi được áp dụng đối với NLĐ có trình độ chuyên môn kỹ thuật cao và một số trường hợp đặc biệt.

1. Sự cần thiết điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu:

 Việc nâng tuổi nghỉ hưu đã được đặt ra từ nhiều năm, đã được nghiên cứu kỹ lưỡng khi Ban chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 23/5/2018 về cải cách chính sách bảo hiểm xã hội (BHXH).  

Việc nâng tuổi nghỉ hưu là vấn đề của hầu hết các nước, trong đó có Việt Nam, vì một số lý do sau:

- Để thích ứng với quá trình già hóa dân số và nguy cơ thiếu hụt lao động trong tương lai.

+ Tốc độ già hóa dân số rất nhanh;

+10 năm trước: tổng số lao động gia nhập thị trường trừ đi số rời khỏi thị trường khoảng từ 1 triệu - 1,5 triệu người;

+ Hiện nay: chỉ khoảng 400 ngàn người;

- Thừa nhận và đảm bảo quyền, nhu cầu được làm việc của người dân:

Kết quả khảo sát, nghiên cứu cho thấy:

+ Có tới 70-72% nam giới ở độ tuổi 60-65 và nữ giới ở độ tuổi 55-60 vẫn còn tiếp tục tham gia lực lượng lao động;

+ Số năm khỏe mạnh sau tuổi 60 của Việt Nam ở mức rất khá (theo công bố của Tổ chức Y tế thế giới Việt Nam đứng thứ 41 trên tổng số 183 quốc gia được xếp hạng).

- Nhằm thúc đẩy bình đẳng giới trên thị trường lao động, đảm bảo nguyên tắc không phân biệt đối xử (theo Công ước của Liên Hợp Quốc về xóa bỏ tất cả các hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ (CEDAW)) cần thiết phải điều chỉnh để thu hẹp khoảng cách về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ.

- Đảm bảo cân đối tài chính quỹ hưu trí và tử tuất trong dài hạn, cần thiết phải mở rộng độ tuổi lao động, tăng tuổi nghỉ hưu. Thực chất là kéo dài hơn số năm tham gia BHXH, điều chỉnh giảm số năm hưởng lương hưu.

2. Cơ sở xác định mốc tăng tuổi nghỉ hưu (62 đối với nam, 60 đối với nữ):

- Thứ nhất, bảo đảm sự phù hợp với quy mô, cơ cấu, chất lượng, thể trạng sức khỏe và tuổi thọ của NLĐ Việt Nam:

+ Tỷ lệ người trong độ tuổi có khả năng lao động giảm do tác động của quá trình già hóa dân số (trung bình mỗi năm chỉ tăng thêm khoảng 400.000 người), tỷ lệ số người phụ thuộc đang tăng lên (44,4% vào năm 2019);

+ Chất lượng, thể trạng sức khỏe và tuổi thọ của NLĐ ngày càng tăng (tuổi thọ bình quân của nam là 71 tuổi, của nữ là 76,3 tuổi; trung bình cả hai giới tính là 73,6 tuổi, cao hơn tuổi thọ trung bình của dân số thế giới là 72 tuổi).

+ So sánh với các nước trong khu vực, Việt Nam đang có tuổi nghỉ hưu tương đối thấp trong khi lại có mức tuổi thọ ở tuổi 60 khá cao.

 

 

Kỳ vọng sống (số năm sống trung bình) sau tuổi 60

Tuổi nghỉ hưu bình quân

Việt Nam

22,5

57,5 (*)

Malaysia

19,5

60

Thailand

21

60

 

- Thứ hai, tham khảo kinh nghiệm, thông lệ của các quốc gia trên thế giới quy định về tuổi nghỉ hưu:

Tuổi nghỉ hưu các nước trên thế giới phổ biến là trên 60 đối với nữ, trên 62 đối với nam.

Thống kê của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) đối với 176 quốc gia cho thấy:

+ Tuổi nghỉ hưu của nữ, phổ biến từ 60-62 chiếm 37,5%;

+ Tuổi nghỉ hưu của nam, phổ biến từ 60-62 chiếm 47,2%;

+ Số nước có tuổi nghỉ hưu của nam từ 63 tuổi là 45,4%.

- Thứ ba, việc nâng tuổi nghỉ hưu lên nam 62 tuổi, nữ 60 tuổi là cần thiết, tránh việc phải điều chỉnh đột ngột lên mức quá cao trong tương lai, nhất là đối với nữ.

- Thứ tư, hầu hết các quốc gia khi điều chỉnh tăng tuổi nghỉ hưu đều có một lộ trình để thu hẹp dần khoảng cách về tuổi nghỉ hưu giữa nam và nữ.

3. Về việc xác định lộ trình điều chỉnh tuổi nghỉ hưu:

BLLĐ quy định lộ trình điều chỉnh tăng dần tuổi nghỉ hưu (tăng chậm) với các lý do:

+ Một là, tránh gây "sốc" cho thị trường lao động, lộ trình thường thấy ở các nước là 1 năm tăng 3 tháng.

+ Hai là, lộ trình điều chỉnh tuổi chậm sẽ góp phần ổn định chính trị - xã hội, có tác động tốt hơn đến tâm lý xã hội của NLĐ và doanh nghiệp.

II. Về tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở:

1. Sự cần thiết phải quy định về tổ chức đại điện người lao động:

- Thể chế hóa Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 05 tháng 11 năm 2016 về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới và Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21 tháng 5 năm 2018 của Ban chấp hành Trung ương Đảng về cải cách chính sách tiền lương:

Nghị quyết 06-NQ/TW: “2.10- Đổi mới tổ chức, hoạt động của tổ chức công đoàn và quản lý tốt sự ra đời, hoạt động của các tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp

Nghị quyết số 27-NQ/TW: Doanh nghiệp và tổ chức đại diện người lao động thương lượng, thoả thuận về tiền lương, tiền thưởng, các chế độ khác …”

- Đáp ứng các yêu cầu cam kết quốc tế, gồm:

+ Cam kết trong các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP và EVFTA):

Pháp luật Việt Nam đã tương thích với 7/8 nội dung cam kết về lao động của CPTPP: (1) Thương lượng tập thể; (2) cấm lao động cưỡng bức; (3) cấm lao động trẻ em; (4) cấm phân biệt đối xử trong lao động; (5) lương tối thiểu; (6) giờ làm việc; (7) an toàn lao động. Còn một nội dung cần sửa đổi bổ sung liên quan đến quyền của người lao động được thành lập tổ chức đại diện trong quan hệ lao động.

+ Các Công ước của Liên hợp quốc mà Việt Nam là thành viên (Công ước của Liên hợp quốc về các quyền dân sự và chính trị, Công ước của Liên hợp quốc về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa);

+ Nghĩa vụ quốc gia thành viên của Tổ chức lao động quốc tế (tôn trọng, thúc đẩy và thực hiện các tiêu chuẩn lao động cơ bản theo Tuyên bố năm 1998 của ILO).

2. Nguyên tắc, quan điểm về tổ chức đại điện người lao động:

- Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức đại diện NLĐ, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, phù hợp với các nguyên tắc của Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) và các Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

- Bảo đảm vai trò, vị thế chính trị - xã hội của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam tiếp tục được khẳng định:

  • Các tổ chức đại diện của NLĐ chỉ là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ làm chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của NLĐ trong phạm vi quan hệ lao động.

+ Tổ chức công đoàn sẽ đóng vai trò nòng cốt, chủ yếu.

- Bảo đảm tổ chức đại diện NLĐ có thể tiến hành thương lượng tập thể một cách thực chất, hiệu quả về tiền lương và điều kiện làm việc theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW, góp phần xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.

  1. Các quy định cụ thể về tổ chức đại điện người lao động:

      3.1 Về việc thành lập, đăng ký hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ:

BLLĐ quy định có tính nguyên tắc đối với 3 vấn đề cốt lõi nhất, bao gồm:

- Quyền thành lập, gia nhập tổ chức đại diện:

Tổ chức của NLĐ chỉ được công nhận và hoạt động hợp pháp sau khi đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

- Điều kiện đối với ban lãnh đạo và người đứng đầu tổ chức: (i) phải là NLĐ Việt Nam; (ii) đang làm việc tại đơn vị sử dụng lao động; (iii) được NLĐ bầu nhằm tránh can thiệp từ bên ngoài.

- Điều kiện về tôn chỉ, mục đích hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ: (i) phải có tôn chỉ mục, mục đích phù hợp, không được có mục đích chính trị, chỉ hoạt động bảo vệ quyền lợi NLĐ trong phạm vi quan hệ lao động tại cơ sở; (ii) phải có nguyên tắc tổ chức, hoạt động phù hợp; (iii) có nguồn tài chính hợp pháp, được quản lý công khai, minh bạch…  

       3.2 Về nội dung, phạm vi hoạt động của tổ chức đại diện NLĐ trong quan hệ lao động:

  * Các nguyên tắc:

  - 01 doanh nghiệp chỉ có một thương lượng tập thể và một thỏa ước lao động tập thể (TƯLĐTT) được ký kết (dù có nhiều tổ chức đại diện người lao động)

  - TƯLĐTT dù được tổ chức đại diện nào thương lượng đều phải được đa số NLĐ tại doanh nghiệp đồng ý mới được ký kết (trên 50%).

* Quyền thương lượng tập thể:

  -  Doanh nghiệp có nhiều tổ chức đại diện thì cũng chỉ có một tổ chức đại diện NLĐ có quyền thương lượng tập thể là tổ chức thỏa mãn 2 điều kiện:

+ Phải đạt tỷ lệ thành viên tối thiểu trên tổng số NLĐ theo quy định của Chính phủ;

+ Là tổ chức đại diện nhất của NLĐ tại cơ sở (số thành viên nhiều nhất).

-  Trường hợp không có tổ chức nào thỏa mãn điều kiện thứ nhất, các tổ chức có thể kết hợp với nhau để đảm bảo điều kiện tiến hành thương lượng tập thể.

 

                                                                                   Lê Ngọc Mừng

Trưởng phòng Phòng LĐVL và ATLĐ

Tương phản
Đánh giá bài viết(0/5)

Ảnh hoạt động Ảnh hoạt động

  Hình Ảnh
Slideshow Image 1 Slideshow Image 1 Slideshow Image 1

Liên kết Liên kết

thống kê truy cập thống kê truy cập

  Đang truy cập : 1
  Hôm nay: 254
  Tổng lượt truy cập: 743941